Đạo giáo trên đất nước Ấn Độ (Phần 1)

Ngày tạo: 14-06-2017

Đất nước Ấn Độ có một vị trí địa lý rất đặc biệt phong thủy và tâm linh. Lưng tựa dãy núi Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh mông, được hai con sông Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa mẹ nuôi dưỡng bình nguyên bao la, đây cũng là cái nôi của nền nông nghiệp định cư vào thời cổ đại. Chính ở nơi đất địa linh này đã sinh ra nhiều vĩ nhân như Đức Thích Ca Nu Ni, Thánh Mahatma Gandhi, hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào Rabindranath Tagore v.v… Và các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới được hình thành như Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo, Đạo Sikh v.v…

Câu chuyện về các tôn giáo lớn của đất nước Ấn Độ bắt đầu tại vùng thung lũng Ấn Hà vào khoảng 2.500 năm trước công nguyên. Ở đó thổ dân Dravidian đã thiết lập nền văn minh Harappa cực thịnh trước khi nhóm dân du mục Aryan đến chiếm ngự và làm chủ miền bắc Ấn Độ vào khoảng 1.500 năm trước công nguyên để dồn người Dravidian xuống miền nam. Từ đó trang sử tôn giáo Ấn độ bắt đầu. Lịch sử cổ thời của tôn giáo tại Ấn Độ là chuỗi thời gian của phân biệt giai cấp xã hội cực kỳ khắc nghiệt. Đứng đầu trong đẳng cấp xã hội là giới tăng lữ Bà La Môn với quyền hạn tuyệt đối về tư tưởng, tôn giáo, lễ nghi và luật lệ. Kế tiết là đẳng cấp Sát Đế Lợi với vai trò cai trị xã hội qua lĩnh vực chính trị và quân sự. Đẳng cấp thứ ba là thương nhân chi phối xã hội trong lĩnh vực kinh tế. Sau cùng và thấp nhất là đẳng cấp Thủ Đà La bị thống trị bởi 3 giai cấp trên. Thân phận của tầng lớp này rất bi đát thời cổ đại Ấn độ, họ luôn bị xem như nô lệ của 3 giai cấp trên. Một người Thủ Đà La ra đường gặp phải 3 giai cấp trên không được đối mặt mà phải tránh né, bởi 3 giai cấp trên cảm thấy bị xúc phạm và ô ếu khi gặp người của giai cấp Thủ Đà La. Đó là một trong những mạng lưới phân biệt bất công nhất trong lịch sử nhân loại. Khi đức Phật Thích Ca Mu Ni bắt đầu công cuộc chuyển hóa con người và xã hội qua giáo lý trí tuệ giác ngộ và từ bị bình đẳng của Ngài vào cuối nửa thế kỷ thứ 7 và đầu thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, thì xóa bỏ giai cấp là một trong những mục tiêu mà Ngài nỗ lực thực hiện.

Có bốn tôn giáo lớn được khai sinh ngay trên đất Ấn Độ đó là: Ấn Độ giáo (Hinduism), Kỳ Na giáo (Jainism), Phật giáo (Buddhism) và Đạo Sikh (Sikhism). Bốn tôn giáo này dù được khai sinh tại Đông phương nhưng đã truyền bá ra ngoài biên cương Ấn Độ đến khắp thế giới. Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo và Đạo Sikh có cùng một quan điểm chính về lễ nghi và văn học, nhưng được diễn dịch khác nhau theo từng nhóm và cá nhân. Chẳng hạn, lễ quán đảnh thì quan trọng trong 3 truyền thống này, ngoại trừ đạo Sikh (trong Phật giáo cũng thực hiện Kim Cang Thừa). Những lễ nghi khác đáng nhớ là lễ hỏa táng, lễ thoa thần son lên đầu bởi những phụ nữ có chồng, và nhiều nghi lễ hôn nhân khác. Trong văn học, nhiều truyện cổ tích và cổ sử đã kể theo lối thể cách mới gồm có các tác phẩm thuộc Ấn Độ giáo, Phật giáo hay Kỳ Na giáo. Tất cả  truyền thống đó đều có các khái niệm về nghiệp, pháp, luân hồi, giải thoát và nhiều thể thức thiền định và Yoga khác nhau. Dĩ nhiên, các phạm trù khái niệm này được nhận thức khác nhau theo các tôn giáo khác nhau. Thí dụ, đối với người Ấn Độ giáo, pháp là bổn phận của người tu tập. Đối với Kỳ Na giáo, pháp là điều đúng mà người tu tập thực hiện. Đối với Phật tử, pháp thường được hiểu là giáo pháp, là con đường của đức Phật dạy. Đối với người Ấn Độ, Yoga là sự dừng lại của tất cả tư tưởng và hành động của tâm. Đối với người Kỳ Na giáo, Yoga là tổng hợp tất cả hoạt động thân thể, lời nói và tinh thần. Điều này cũng dễ hiểu bởi lịch sử các tôn giáo Ấn Độ khởi nguyên với tôn giáo Vệ Đà, sự thực hành tôn giáo của người gốc Aryan sơ khai được thâu nhập và biên soạn thành bộ Samhita (thường được biết tới như Vệ Đà) gồm 4 tập hợp căn bản của các thánh ca hay thần chú được soạn theo tiếng Phạn cổ. Những văn bản này là những bài tụng chính của Ấn Độ giáo. Thời gian sáng tác, biên soạn và chú giải những văn bản này được biết như thời Vệ Đà, kéo dài từ khoảng 1.500 năm tới 500 năm trước công nguyên. Thời kỳ Vệ Đà rất quan trọng đối với việc tập đại thành của 4 Vệ Đà, các bản giải thích Vệ Đà và Áo Nghĩa Thư cổ (cả hai sau đều đề cập đến việc giải thích các nghi lễ, thần chú và quan điểm trong 4 bộ Vệ Đà) mà ngày nay là những văn bản chính thống quan trọng của Ấn Độ giáo. Vệ Đà phản bác các lễ nghi của thời đại Hậu Đồ Đồng tới thời Đại Tiền Đồ Sát của người Ấn nói tiếng Indo-Aryan. Thời đại cuối Vệ Đà (từ thế kỷ thứ 9 tới thế kỷ thứ 6 trước công nguyên) đánh dấu bằng sự xuất hiện của Upanisad (Áo Nghĩa Thư) hay Vedanta (Vệ Đàn Đà). Thời kỳ này báo trước sự bắt đầu của Ấn Độ giáo cổ thời với sự kết hợp của Upanisad, cuối thời sử thi tiếng Phạn cũng được tiếp nối bởi Purana (cổ sử được viết theo thể loại mới).

Các tôn giáo tại Ấn Độ được phân ra thành 2 loại: hữu thần và vô thần. Các tôn giáo hữu thần tin vào quyền năng sáng tạo vũ trụ và con người của thượng đế mà đại biểu là Ấn Độ giáo. Trong khi đó, các tôn giáo vô thần không tin vào quyền năng sáng thế của Thượng Đế mà chỉ tin vào khả năng tự tạo của con người gồm Phật giáo và Kỳ Na giáo. Cũng còn một cách giải thích khác về tôn giáo hữu thần hay vô thần dựa vào tiêu chuẩn tôn giáo đó có chấp nhận thẩm quyền của các bộ Vệ Đà hay không. Theo cách giải thích này thì Nyaya, Vaisheshika, Samkhya, Yoga, Purva, Mimamsa và Vedanta là những giáo phái hữu thần, trong khi đó Phật giáo và Kỳ Na giáo là vô thần. Trong hàng ngũ các trường phái vô thần còn có một trường phái triết học duy vật phát sinh vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước công nguyên có tên là Carvaka. Dù không phải là một trong 6 trường phái triết học chính thống của Ấn Độ giáo, nhưng sự xuất hiện của trường phái này cho thấy có một phong trào duy vật nổi lên trong chính Ấn Độ giáo thời bấy giờ. Trường phái duy vật Carvaka chủ yếu nhắm vào việc phê phán các trường phái khác, chính vì lẽ đó nó đã không tồn tại được lâu dài trong truyền thống tôn giáo và triết học Ấn Độ. Ngoài ra còn 2 trường phái triết học vô thần khác xuất hiện trễ hơn vào thế kỷ thứ 2 sau công nguyên là Samkhya và Mimamsa. Đến thế kỷ thứ 15 sau công nguyên tại khu vực Punjab thuộc miền bắc Ấn Độ xuất hiện Đạo Sikh dựa trên giáo lý của đạo sư Nanak và 9 vị đạo sư kế thừa khác. Tín đồ Đạo Sikh tin vào Thần Vahiguru.

Trên đây là giới thiệu tổng quát về 4 tôn giáo chính của Ấn Độ, nhưng còn lịch sử hình thành và phát triển, tư tưởng chủ đạo, ảnh hưởng của mỗi tôn giáo chính đối với xã hộ Ấn Độ thì thế nào? Sẽ giới thiệu tiếp phần 2 của của chuyên đề này.

(hết phần 1)

 

                                                                           VIỆN IBV

                                                                      VIỆN TRƯỞNG

                                                               Chuyên gia cảm xạ học

                                                                     Nguyễn Ngọc Sơn 

CẢM TƯỞNG CỦA HỌC VIÊN
THÀNH TÍCH
TRẤN TRẠCH - MỘ TRẠCH - NÂNG SINH KHÍ
NHÂN TƯỚNG HỌC
BẠN CẦN BIẾT
CLB NĂNG LƯỢNG CẢM XẠ
  • Tổng bài viết đọc hôm nay: 1648
  • Tổng bài viết đọc hôm qua: 2688
  • Tổng bài viết đọc tháng này: 112840
  • Tổng bài viết đọc tháng trước: 121472
  • Tổng bài viết đọc năm nay: 922267
  • Tổng bài viết đọc năm trước: 910390
  • Tổng số khách truy cập hôm nay: 1648
  • Tổng số khách truy cập hôm qua: 2688
  • Tổng số khách truy cập năm nay: 922267
  • Tổng số khách truy cập năm trước: 910390
  • Số người trực tuyến: 39
New